Tag: kiến thức bê tông

Thông tin cần biết về gạch bê tông nhẹ

Thông tin cần biết về gạch bê tông nhẹ

Với cấu trúc bọt khí trong viên gạch bê tông nhẹ, do đó nó có khả năng hấp thụ âm thanh, làm cho sóng âm của âm thanh bị chia nhỏ ra, đứt gãy và giảm khi xuyên qua bức tường được xây bằng gạch nhẹ, do đó bê tông siêu nhẹ làm vật liệu cách âm rất tuyệt vời.

Thông tin cần biết về gạch bê tông nhẹ

Thông tin cần biết về gạch bê tông nhẹ

Gạch bê tông nhẹ là loại vật liệu xây dựng có tính đồng nhất, có gốc là bê tông và được dưỡng hộ trong điều kiện hơi nước bão hòa áp suất cao.

Nhờ quá trình chưng áp, các thành phần hóa học và cấu trúc tinh thể được ổn định để tạo ra kết cấu vững chắc bao gồm chủ yếu là khoáng tobermorite. Vì thế, gạch bê tông nhẹ có độ bền vững theo thời gian, có cường độ chịu lực cao nhất trong các loại vật liệu có dạng xốp và ổn định hơn các dạng gạch bê tông thông thường.

Với cấu tạo gốc là be-tong và được dưỡng hộ trong điều kiện hơi nước bão hòa áp suất cao, cùng với quá trình chưng áp nên các thành phần hóa học và cấu trúc tinh thể được ổn định để tạo ra kết cấu vững chắc. Cùng với đặc tính có kết cấu bọt khí trong viên gạch bê tông nhẹ chiếm tới gần 79% cấu tạo toàn bộ viên gạch, do đó gạch bê tông nhẹ có khối lượng chỉ bằng ½ tới 1/3 so với gạch đất nung, và nó chỉ bằng khoảng ¼ so với khói lượng của gạch bê tông thông thường.

Với cấu trúc bọt khí trong viên gạch bê tông nhẹ, do đó nó có khả năng hấp thụ âm thanh, làm cho sóng âm của âm thanh bị chia nhỏ ra, đứt gãy và giảm khi xuyên qua bức tường được xây bằng gạch nhẹ, do đó bê tông siêu nhẹ làm vật liệu cách âm rất tuyệt vời.

Cấu trúc bọt khí không chỉ giúp cách âm mà còn có tác dụng cách nhiệt, tiết kiệm năng lượng. Thực tế đã cho kết quả là điện năng mà máy điều hòa nhiệt độ tiêu thụ tiết kiệm hơn tới 40%, tường xây bằng gạch bê tông nhẹ có thể chịu được 12000C của những đám cháy thông thường, đồng thời nó cũng không bị thay đổi kết cấu khi phun nước lạnh đột ngột và kết quả cho thấy bức tường xây bằng gạch bê tông nhẹ đảm bảo an toàn tối thiểu 4 tiếng trong đám cháy.

Khí hậu Việt Nam là khí hậu nhiệt đới gió mùa, do đó côn trùng dễ sinh sôi nảy nở và phá hoại tuổi thọ công trình, lựa chọn gạch siêu nhẹ làm vật liệu xây dựng giúp ngăn ngừa tình trạng phá hoại của mối, mọt, kiến hoặc các sinh vật khác trong điều kiện khí hậu nhiệt đới.

Kích thước của gạch bê – tông khá lớn và được sản xuất theo đúng kích thước tiêu chuẩn trong xây dựng. Điều này giúp cho việc xây tường có độ chính xác cao, giảm thất thoát lượng vữa để trát phẳng mặt. Và điều này góp phần giảm chi phí vữa, thời gian hoàn thành so với gạch đất nung thông thường.

Trái đất đang nóng lên, khí hậu đang ngày càng trở nên khắc nghiệt hơn, người người, nhà nhà cần chung tay bảo vệ môi trường sống của mình. Sản phẩm gạch bê tông nhẹ rất thân thiện môi trường, từ nguồn nguyên liệu cho đến quy trình sản xuất. Sản phẩm giảm thiểu lượng chất thải gây ô nhiễm môi trường và khí thải gây hiệu ứng nhà kính.

Có thể nói gạch bê tông siêu nhẹ là một sản phẩm xây dựng thông minh và là sự lựa chọn sáng suốt, khôn ngoan của người tiêu dùng.

Chia sẻ kinh nghiệm trộn vữa và bê tông

Chia sẻ kinh nghiệm trộn vữa và bê tông

Một vấn đề quan trọng quyết định đến chất lượng và giá thành của các loại Mác bê tông. Nhưng công ty xây dựng lớn họ luôn có tỷ lệ cố định cho các loại

Chia sẻ kinh nghiệm trộn vữa và bê tông

Chia sẻ kinh nghiệm trộn vữa và bê tông

Kinh nghiệm trộn vữa và bê tông được chúng tôi chia sẻ cho tất cả mọi người từ chủ đầu tư hay chủ nhà muốn đổ bê tông sàn cần biết các mác bê tông và kinh nghiệm khi làm.

Một vấn đề quan trọng quyết định đến chất lượng và giá thành của các loại Mác bê tông. Nhưng công ty xây dựng lớn họ luôn có tỷ lệ cố định cho các loại Mác bê tông khác nhau để có được chất lượng cao nhất với chi phí thấp nhât. Sau quá trình tham khảo mình có một số chia sẻ sau :

Thứ nhất là, việc trộn bê tông, mỗi loại bê tông lại có tỷ lệ khác nhau. Nhắc đến Mác bê tông là người ta nhắc đến khả năng chịu nén cửa mẫu bê tông. Theo TCVN (tiêu chuẩn Việt Nam) 3105:1993 mẫu dùng để đo cường độ là mẫu bê tông lập phương có kích thước 150 mm x 150 mm x150 mm trong thời gian 28 ngày sau khi bê tông ninh kết. Sau đó đưa vào máy nén để đo ứng suất nén phá huỷ mẫu ( qua đó đo được khả năng chịu nén của bê tông), đơn vị tính bằng Mpa (N/ mm²) hoặc daN/cm² (kg/cm²).

Sau đây là các cách trộn để đạt được Mac bê tông chất lượng khi thi công. Thường lấy thùng 18 lít để đo theo tỷ lệ sau:

– Bê tông Mac 200 kG/cm²(hay 20MPa): 01 XM – 02 CÁT – 03 ĐÁ
– Bê tông Mac 250 kG/cm²(hay 25MPa): 02 XM – 03 CÁT – 05 ĐÁ
– Bê tông Mac 300 kG/cm²(hay 30MPa): 01 XM – 01 CÁT – 02 ĐÁ
Thứ hai là việc trộn vữa thì có hai loại (chia theo Mac)

– Vữa mác 75 kG/cm²: 01 XM – 05 CÁT.

– Vữa mác 100 kG/cm²: 01 XM – 04 CÁT.

Định nghĩa Mác bê tông

Định nghĩa Mác bê tông

Có rất nhiều cách xác định mác bê tông đạt tiêu chuẩn. Trong phạm vi bài viết này chúng tôi đưa ra cách xác định mác bê tông đơn giản nhất. Để xác định mỗi mác bê tông thực tế, tối thiểu cần phải có một tổ mẫu lấy tại hiện trường, gồm 3 mẫu bê tông đồng nhất (về vị trí và cách thức lấy mẫu, về điều kiện dưỡng hộ).

Định nghĩa Mác bê tông

Định nghĩa Mác bê tông

Định nghĩa mác bê tông: Nhiều người không hiểu mác bê tông là gì và làm như thế nào để có mác bê tông như mong muốn. Dưới đây là định nghĩa chuẩn về mác bê tông và cách trộn để được hỗn hợp bê tông như mong muốn.

Định nghĩa Mác bê tông.
Tuỳ từng nước với điều kiện thời tiết khác nhau, với yêu cầu xây dựng khác nhau mà quy định kích thước của các mác bê tông là khác nhau. Để các tiêu chuẩn được tương đương thì chúng ta dùng hệ số quy đổi.

Có rất nhiều cách xác định mác bê tông đạt tiêu chuẩn. Trong phạm vi bài viết này chúng tôi đưa ra cách xác định mác bê tông đơn giản nhất. Để xác định mỗi mác bê tông thực tế, tối thiểu cần phải có một tổ mẫu lấy tại hiện trường, gồm 3 mẫu bê tông đồng nhất (về vị trí và cách thức lấy mẫu, về điều kiện dưỡng hộ). Đối với các kết cấu lớn, các tổ mẫu trên cùng một kết cấu phải ở những vị trí khác nhau và số lượng của chúng đủ lớn để mang tính đại diện được cho toàn bộ kết cấu đó. Giá trị trung bình của ứng suất nén tại thời điểm phá hủy (do nén mẫu) của cả 3 mẫu trong tổ mẫu, được lấy để xác định mác bê tông (tuổi 28 ngày). Nếu thời điểm nén tổ mẫu không phải là 28 ngày sau khi bê tông ninh kết(thường là 3 hay 7 ngày sau), thì mác bê tông được xác định gián tiếp qua biểu đồ phát triển cường độ bê tông chuẩn tương ứng. Các kết quả nén mẫu ở tuổi 3 hay 7 ngày là các kết quả kiểm tra nhanh, chưa chính thức. Kết quả nén mẫu ở tuổi 28 ngày mới được coi là mác của bê tông thực tế. Kết cấu bê tông tại chỗ được coi là đạt yêu cầu về mác thiết kế (quy định trong thiết kế) khi giá trị trung bình của từng tổ mẫu (mác thực tế) không được nhỏ hơn mác thiết kế, nhưng đồng thời phải không có mẫu nào trong các tổ mẫu có kết quả thí nghiệm dưới 85 % mác thiết kế.

Khi nói đến mác bê tông là nói đến khả năng chịu nén của mẫu bê tông. Theo tiêu chuẩn xây dựng hiện hành của Việt Nam (TCVN 3105:1993, TCVN 4453:1995), mẫu dùng để đo cường độ là một mẫu bê tông hình lập phương có kích thước 150 mm × 150 mm × 150 mm, được dưỡng hộ trong điều kiện tiêu chuẩn quy định trong TCVN 3105:1993, trong thời gian 28 ngày sau khi bê tông ninh kết. Sau đó được đưa vào máy nén để đo ứng suất nén phá hủy mẫu (qua đó xác định được cường độ chịu nén của bê tông), đơn vị tính bằng MPa (N/mm²) hoặc daN/cm² (kg/cm²).

Theo quy định về kết cấu xây dựng thì bê tông phải chịu được nhiều tác động khác nhau: chịu nén, uốn, kéo, trượt, trong đó chịu nén là ưu thế lớn nhất của bê tông. Do đó, người ta thường lấy cường độ chịu nén là chỉ tiêu đặc trưng để đánh giá chất lượng bê tông, gọi là mác bê tông

Mác bê tông được phân thành nhiều loại từ 100, 150, 200, 250, 300, 400, 500 và 600. Khi nói rằng mác bê tông 200 chính là nói tới ứng suất nén phá hủy của mẫu bê tông kích thước tiêu chuẩn, được dưỡng hộ trong điều kiện tiêu chuẩn, được nén ở tuổi 28 ngày, đạt 200 kG/cm². Còn cường độ chịu nén tính toán của bê tông mác 200 chỉ là 90 kG/cm² (được lấy để tính toán thiết kế kết cấu bê tông theo trạng thái giới hạn thứ nhất). Ngày nay với công ngệ phát triển người ta có thể chế tạo bê tông có cường độ rất cao lên đến 1000 kg/cm².

Các kiểu hư hỏng bê tông thường gặp

Các kiểu hư hỏng bê tông thường gặp

Trong một vài trường hợp, muối khoáng được hòa tan trong nước. Nếu nước với muối hòa tan tích tụ trên bề mặt bê tông, khi nước bay hơi sẽ đọng lại muối trên bề mặt bê tông. Tách nước nhiều cũng có thể là nguyên nhân gây nở hoa.

Các kiểu hư hỏng bê tông thường gặp

Các kiểu hư hỏng bê tông thường gặp

Qua những năm tháng sử dụng dưới sự tác động của nắng mưa bê tông của những công trình xây dựng của chúng ta có sẽ có những sự cố và hư hỏng.

CÁC HƯ HỎNG BÊ TÔNG THƯỜNG GẶP

Ngoài ra trong quá trình thi công đơn vị thi công công trình cũng có những sơ xuất làm ảnh hưởng đến chất lượng của bê tông của công trình. Sau đây là chúng tôi xin nêu ra một số hư hỏng bê tông thường gặp,cách phòng ngừa và sửa chữa những hư hỏng đó.

Bê tông chậm đóng rắn, cường độ thấp
Hiện tượng bê tông được đổ sau 1÷2 ngày nhưng cường độ vẫn yếu, có thể chỉ tại một vài khoảng nhỏ.

Nguyên nhân:

– Vị trí bê tông yếu bị lẫn quá nhiều nước.

– Đầm không đủ hay đầm quá kỹ gây phân tầng bê tông.

– Cát quá mịn hay vật liệu bị lẫn nhiều tạp chất.

– Vị trí bê tông yếu bị lẫn nhiều mẻ bê tông khác nhau.

– Bê tông bị mất nước do bảo dưỡng không tốt.

– Có thể do dùng phụ gia hóa học quá liều.

– Chậm đóng rắn có thể do nhiệt độ môi trường rất thấp.

Phòng ngừa:

– Lựa chọn vật liệu sạch: cát, đá, nước không bị lẫn tạp chất.

– Chú ý công tác trộn, đầm, đổ, hoàn thiện và bảo dưỡng bê tông đúng cách.

– Cần tiếp tục che phủ và dưỡng ẩm bê tông qua 7 ngày liên tục.

– Khi sử dụng phụ gia hóa học phải tham khảo kỹ hưỡng dẫn của nhà sản xuất phụ gia và trộn bê tông kỹ hơn.

2. Bê tông bị nứt mặt sau khi đổ(nứt do co dẻo)
Là hiện tượng các vết nứt nhỏ trên xuất hiện trên bề mặt bê tông sau khi đổ vài giờ.

Nguyên nhân: Do bề mặt bê tông bị khô nhanh gây co ngót (Ví dụ: Trong điều kiện nhiệt độ cao và/hoặc hanh khô, hay khô ẩm luân phiên, hoặc gió mạnh).

Phòng ngừa: Hoàn thiện và bảo dưỡng bê tông đúng cách (che phủ, tưới nước,…)

Sửa chữa: Việc sửa chữa có thể không cần thiết bởi nứt do co dẻo chỉ xảy ra trên bề mặt bê tông sẽ không làm yếu bê tông đáng kể. Nếu các vết nứt này ảnh hưởng đến thẩm mỹ thì có thể áp dụng một lớp vữa phủ bề mặt.

Bê tông bị trắng mặt (bụi trắng)
Hiện tượng có một lớp bột mịn trên bề mặt bê tông dễ dàng dính tay khi quệt vào.

Nguyên nhân:

– Hoàn thiện bề mặt quá sớm, trước khi bê tông se mặt. Hoặc hoàn thiện bê tông dưới trời mưa.

– Bảo dưỡng không đúng, hay bề mặt bị khô quá nhanh.

– Bản thân bê tông quá yếu, chịu mài mòn kém.

Phòng ngừa:

– Đợi bê tông se mặt trước khi làm mặt, hoặc quét nước mặt khi thời tiết lạnh. Bảo dưỡng đúng cách.

– Bảo vệ bê tông tránh bị khô quá nhanh trong thời tiết nóng và gió.

– Với điều kiện khắc nghiệt, nên sử dụng bê tông có cường độ cao hơn.

Sửa chữa:

Nếu hiện tượng trắng mặt là không đáng kể, có thể sử dụng chất cứng hóa bề mặt. Mặt khác, nếu bề mặt bê tông quá yếu, cần thiết loại bỏ lớp bề mặt rồi áp dụng một lớp phủ khác.

Bê tông bị phồng rộp
Hiện tượng những nốt phồng rộp xuất hiện trên mặt bê tông chứa cả khí và nước.

Nguyên nhân: Khi bề mặt bê tông tươi được miết bằng bay trong khi bọt khí và nước tách ra vẫn ở dưới bề mặt. Hiện tượng này thường xảy ra trong những sàn bê tông có độ dày hoặc trong những ngày nóng, gió khi mà dễ bị khô nhanh.

Phòng ngừa: Sau khi đổ, san gạt và đầm mặt, giữ bê tông lâu nhất có thể trước khi làm nhẵn bằng bay. Bảo dưỡng bê tông để ngăn chặn bốc hơi nước trong bê tông.

Nếu phồng rộp đang hình thành, tạm thời trì hoãn việc làm nhẵn mặt và áp dụng các biện pháp ngăn chặn bốc hơi nước.

Sửa chữa: Loại bỏ lớp bê tông yếu, mài phẳng lại.

Bê tông bị biến màu
Hiện tượng có những mảng màu đậm nhạt khác nhau trên bề mặt bê tông.

Nguyên nhân:

– Điều kiện bảo dưỡng bê tông không đồng đều trên bề mặt bê tông.

– Sử dụng các loại xi măng khác nhau để làm khô bề mặt khi hoàn thiện.

– Cát, đá bẩn: sau khi đầm bê tông các chất bẩn nổi lên và dồn lại tạo các vệt màu..

Phòng ngừa: Sử dụng một loại bê tông khi đổ, đầm và hoàn thiện, và giữ cho bê tông đều ẩm. Không sử dụng xi măng làm khô bề mặt. Sử dụng vật liệu sạch.

Sửa chữa: Nhiều trường hợp biến màu xuất phát từ tay nghề công nhân. Việc khắc phục biến màu do các vết bẩn là rất khó. Có thể xử lý bằng cách rửa với axit yếu hay phủ một lớp vữa lên bề mặt.

Bê tông bị ‘nở hoa’
Hiện tượng lớp tinh thể màu trắng xuất hiện trên bề mặt bê tông trong thời gian ngắn sau hoàn thiện.

Nguyên nhân: Trong một vài trường hợp, muối khoáng được hòa tan trong nước. Nếu nước với muối hòa tan tích tụ trên bề mặt bê tông, khi nước bay hơi sẽ đọng lại muối trên bề mặt bê tông. Tách nước nhiều cũng có thể là nguyên nhân gây nở hoa.

Phòng ngừa: Sử dụng nước sạch, không có muối hòa tan, và cát được rửa. Tránh để tách nước nhiều.

Sửa chữa: Sử dụng bàn chải và nước sạch để rửa. Không dùng bàn chải sắt. Có thể dùng axit clohydric loãng để rửa.

Bê tông bị rỗ tổ ong
Hiện tượng cốt liệu lớn (đá, sỏi) xuất hiện quá nhiều trên bề mặt.

Nguyên nhân:

– Lèn chặt kém, phân tầng trong suốt quá trình đổ bê tông.

– Dò vữa qua ván khuôn.

– Hỗn hợp bê tông nghèo, không đủ cốt liệu mịn.

Phòng ngừa: Sử dụng cấp phối tốt hơn. Cẩn thận trong quá trình đổ để tránh phân tầng. Lèn chặt bê tông đúng cách. Ván khuôn kín nước tốt.

Sửa chữa: Nếu tổ ong chỉ xảy ra trên bề mặt, có thể phục hồi bằng một lớp vữa mới. Nếu tổ ong xuyên suốt kết cấu thì cần loại bỏ và thay thế.

Chúc các bạn thành công với những sữa chữa của mình.

Kinh nghiệm trước khi đổ bê tông cho một công trình

Kinh nghiệm trước khi đổ bê tông cho một công trình

Đổ bê tông liên tục thành khối, nếu đổ bê tông thủ công dùng đầm quả nhót xăm chọc thật nhanh và kỹ cho khối bê tông đặc chắc, không còn lỗ rỗng bên trong. Nên dùng đầm máy (đầm bàn, đầm dùi) để tăng độ đặc chắc cho khối bê tông.

Kinh nghiệm trước khi đổ bê tông cho một công trình

Kinh nghiệm trước khi đổ bê tông cho một công trình

Kinh nghiệm đổ bê tông sàn, các kỹ thuật đổ bê tông và các phương pháp đổ bê tông như thế nào.Dưới đây là tổng hợp các kinh nghiệm trước khi đổ bê tông cho một công trình.

Hôm nay chúng tôi sẽ đưa ra ý kiến dựa trên kinh nghiệm của công ty chúng tồi giúp các bạn hiểu thêm về phương pháp và những điểm cần lưu ý khi đổ bê tông sàn. Theo chúng tôi đổ bê tông có thể chia làm các bước như sau:

Chuẩn bị nguyên vật liệu
Trộn vữa bê tông
Đổ bê tông sàn
Bảo dưởng ẩm cho bê tông
Dỡ cốt pha
Sau đây chúng ta sẽ đi vào từng giai đoạn củ thể:

Chuẩn bị nguyên vất liệu:
– Nên dùng loại cát có cỡ hạt to và vừa (có mô đun độ lớn từ 2 đến 3,3) sẽ cho bê tông bền chắc hơn loại cát có cỡ hạt nhỏ.
– Đá hoặc sỏi cốt liệu: Phải có mác lớn hơn mác bê tông định chế tạo ít nhất 1,5 lần. Kích thước viên đá lớn nhất phải nhỏ hơn 1/3 chiều dày nhỏ nhất của cấu kiện bê tông.

-Nước dùng trộn và bảo dưỡng bê tông : Sử dụng nước ngọt, sạch. Không dùng nước bẩn, nước lợ, nhiễm mặn, chua phèn…

b. Trộn vữa bê tông

Trước khi trộn vữa các bạn nên lưu ý các vấn đề sau để có được vữa với chất lượng tốt nhất.

– Cân, đong thật đúng tỷ lệ cấp phối của mác bê tông đã chọn. Các nguyên liệu phải sạch.

– Trộn nhanh các thành phần tạo vữa sao cho chúng thật đồng nhất.

– Chỉ nên cho nước trộn vừa phải để vữa có đủ độ linh động khi thi công. Cho nhiều nước bê tông sẽ kém đặc chắc. Cho ít nước vữa sẽ khô khó đầm, lèn.

Trộn vữa bê tông có thể trộn bằng máy hoặc bằng phương pháp thủ công tuỳ thuộc quy mô của công trình. Phương pháp trộn vữa bê tông bằng máy, Vữa bê tông nên được trộn bằng máy vì năng suất cao, chất lượng tốt, tiết kiệm được xi măng và sức lao động. Thông thường sau khi đổ toàn bộ vật liệu vào cối trộn, thùng trộn quay 20 vòng là được. Phương pháp thủ công, Trước tiên trộn khô cát với xi măng cho đến khi đều màu. Rải đá hoặc cốt liệu thành một lớp mỏng 10 ÷ 15 cm. Xúc hỗn hợp cát – xi măng rải đều lên trên, tưới một phần nước rồi dùng xẻng và cào trộn đều. Tiếp đó vừa trộn vừa tưới hết lượng nước qui định. Phải trộn cho hỗn hợp bê tông đồng nhất. Thời gian trộn hỗn hợp bê tông thủ công từ lúc trộn ướt không nên kéo dài quá 20 phút cho một mẻ.

c. Đổ bê tông

– Lắp ghép cốp pha chắc, kín, đủ chịu được độ rung động khi đầm và không chảy mất nước xi măng của vữa bê tông.

– Đánh sạch cốt thép, đặt thép đúng chiều chịu lực, chỉnh thẳng trước khi buộc.

– Đổ bê tông liên tục thành khối, nếu đổ bê tông thủ công dùng đầm quả nhót xăm chọc thật nhanh và kỹ cho khối bê tông đặc chắc, không còn lỗ rỗng bên trong. Nên dùng đầm máy (đầm bàn, đầm dùi) để tăng độ đặc chắc cho khối bê tông.

d. Bảo dưỡng ẩm cho bê tông.

– Bê tông sau khi được tạo hình xong cần phủ ngay bề mặt bằng các tấm vật liệu được làm ẩm như bao tải, tấm cót … hoặc bằng các vật liệu cách nước như ni lông, vải bạt… để tránh mất nước đột ngột gây nứt nẻ bê tông.

– Sau 6 đến 10 giờ, phải tưới nước giữ ẩm thường xuyên, có thể ngâm nước trên bề mặt bê tông càng tốt. Thời gian bảo dưỡng khoảng 2 tuần.

e. Dỡ cốt pha

Trong điều kiện bảo dưỡng tốt, với chất lượng của xi măng sử dụng tốt thì thời gian có thể dỡ cốp pha sau 3 tuần.

Có một lưu ý chung về vấn để sử dụng xi măng là khi đổ bê tông là :

– Không nên tiếp xúc trực tiếp với xi măng. Khi trộn vữa phải đeo khẩu trang, găng tay, đi ủng cao su.

– Khi bị xi măng bắn vào mắt phải rửa ngay bằng nước sạch, sau đó nhỏ thuốc tra mắt. Trường hợp bị nặng phải đưa đến cơ sở y tế để điều trị.

Thông tin cần biết về độ sụt của bê tông

Thông tin cần biết về độ sụt của bê tông

Trong trường hợp hỗn hợp bê tông cứng,có rất ít vữa xi măng trên một đơn vị diện tích bề mặt cốt liệu để làm tăng tính bôi trơn do vậy làm tăng sự linh động của các hạt cốt liệu.Mặt khác,một loại bê tông đắt với tỷ lệ cốt liệu/xi măng thấp,nhiều vữa xi măng bám dính xung quanh các hạt cốt liêu và làm tăng tính công tác.

Thông tin cần biết về độ sụt của bê tông

Thông tin cần biết về độ sụt của bê tông

Độ sụt của bê tông hay độ lưu động của vữa bê tông là gì? Làm sao để kiểm tra độ sụt của bê tông và các thông số kỹ thuật khi thi công sàn bê tông. Định nghĩa đầy đủ về độ sụt của bê tông cũng như nghiên cứu tìm tòi những phân tích chuẩn nhất về độ cứng của hỗn hợp bê tông mời các bạn cùng thảo luận.
Độ sụt của hỗn hợp bê tông
Trong việc kiểm tra chất lượng của bê tông người ta rất chú ý đến việc kiểm tra độ sụt của hỗn hợp bê tông xây dựng. Công việc này chủ được thực hiện tại công trường hoặc trong phòng thí nghiệm để xác định độ cứng, độ chắc chắn của mẫu bê tông. Mỗi mẫu bê tông và ở mỗi quốc gia khác nhau lại có một tiêu chuẩn về độ sụt riêng.

Độ sụt của bê tông đơn giản là một thuật ngữ để mô tả độ cứng hỗn hợp bê tông như thế nào, hơn là sử dụng sự mô tả chung chung như tính ẩm ướt hay tính lỏng. Chiều cao của hỗn hợp bê tông sau khi được được đổ trong nón sụt giảm khác nhau từ một trong những mẫu khác. Mẫu với chiều cao thấp hơn chủ yếu được sử dụng trong xây dựng, với các mẫu có độ sụt cao thường được sử dụng để xây dựng đường vỉa hè.

Kiểm tra độ sụt của bê tông

ĐỊNH NGHĨA ĐỘ SỤT CỦA BÊ TÔNG

Độ sụt hay độ lưu động(Dễ hiểu hơn nó là độ cứng của hỗn hợp bê tông lúc chưa đổ) của vữa bê tông, dùng để đánh giá khả năng dể chảy của hỗn hợp bê tông dưới tác dụng của trọng lượng bản thân hoặc rung động. Độ sụt được xác định theo TCVN 3105-93 hoặc ASTM C143-90A. Ký hiệu là SN (cm). Dụng cụ đo là hình nón cụt của Abrams, gọi là côn Abrams, có kích thước 203x102x305 mm, đáy và miệng hở. Que đầm hình tròn có đường kính bằng 16mm dài 600mm. Độ sụt bằng 305 trừ đi chiều cao của bêtông tươi. Căn cứ vào độ sụt chia bê tông làm 3 loại:

· Loại cứng SN <1.3 cm

· Loại dẻo SN < 8 cm

· Siêu dẻo có SN=10–22 cm.

Ở giai đoạn ban đầu của vật liệu bê tông (giai đoạn có thể thi công được), vật liệu bê tông có dạng vữa lỏng, nên rất dễ chứa đựng, vận chuyển, và đặc biệt là dễ đổ vào thiết bị tạo khuôn. Tính linh động của vữa lỏng đảm bảo cho việc rót bê tông vào khuôn được dễ dàng. Đặc tính linh động của vữa bê tông được đo lường thông qua chỉ tiêu độ sụt của vữa trước khi đổ bê tông. Hình dạng của khối vật liệu bê tông có thể thay đổi theo hình dạng của thiết bị dùng để chứa đựng và tạo hình cho bê tông, còn gọi là khuôn đúc bê tông. Độ sụt của vữa bê tông đảm bảo cho vữa bê tông có thể chảy đến mọi vị trí bên trong khuôn đúc bê tông.

CHÚ Ý …CHÚ Ý: Vữa bê tông là hỗn hợp vật liệu, mà từ lúc trộn đến gần nhất là lúc có thể đổ xong vào khuôn đúc bê tông hoàn toàn không có cường độ, không thể chịu lực được, và ở dạng lỏng vô định hình, có rất ít nội liên kết chịu lực, nên không thể có độ cứng cơ học được. Hình dạng còn tuỳ thuộc vào thiết bị tạo khuôn chứa đựng hỗn hợp này. Hỗn hợp bê tông không là kết cấu bê tông để có độ cứng chịu lực (mô dun đàn hồi).

CẦN PHÂN BIỆT HAI KHÁI NIỆM KHÁC NHAU SAU TRÁNH NHẦM LẪN:

Độ cứng của kết cấu bê tông và Độ cứng hay độ sụt của vữa bê tông.

· Độ cứng của kết cấu bê tông và bê tông cốt thép là khả năng chống biến dạng khi chịu tải của kết cấu bê tông và bê tông cốt thép. Độ cứng này được đo lường bằng các modul biến dạng của kết bê tông (còn gọi là modul đàn hồi).

· Độ cứng của vữa bê tông (tức là hỗn hợp bê tông), còn gọi là độ sụt của hỗn hợp bê tông, để đo lường tính dễ biến dạng (dễ chảy) làm cho bê tông có đặc tính dễ đổ khuôn.

NGHIÊN CỨU VỀ ĐỘ CỨNG CỦA HỖN HỢP BÊ TÔNG
Định nghĩa: Độ cứng của bê tông hay còn gọi là tính công tác hay tính dễ đổ của bê tông. Tính dễ đổ thực tế sinh ra từ việc tổng hợp 2 yếu tố sau:

1. Yếu tố động học:đó là độ cháy hoặc khả năng biến dạng dưới tác dụng của một phương tiện đầm làm cho đầy khuôn dễ dàng và nhanh.

2. Yếu tố tĩnh học: sự ổn định hoặc khả năng giữ được sự đồng nhất(không có sự phân tầng lắng đọng).trong trường hợp tháo khuôn trước đông kết người ta còn mong muốn giữ được hình dạng.

Vì 2 yếu tố đó,độ chảy và sự ổn định luôn luôn biến thiên theo chiều hướng ngược nhau,việc mong muốn đạt được tính dễ đổ tốt hơn dẫn tới tìm ra được một sự thỏa hiệp,bằng cách xem sét tính đến các phương tiện thi công(ví dụ:chấn động mạnh hay yếu). Tính dễ đổ tối ưu là phương tiện tốt hơn để thực hiện được độ đặc chắc cao,yếu tố dẫn đến cường độ đảm bảo. Sự nghiên cứu tính lưu biến của bê tông tươi đã cho phép xác định tính dễ đổ và các yếu tố mà nó phụ thuộc.Đồng thời cho phép đánh giá và tìm kiếm được các biện pháp để cải thiện tính dễ đổ.

CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN ĐỘ SỤT HAY ĐỘ CỨNG CỦA HỖ HỢP BÊ TÔNG
– Hàm lượng nước: có ảnh hưởng rõ rết nhất tới tính công tác của bê tông.Hàm lượng nước trên 1 mét khối bê tông tăng thì bê tông càng dẻo.hàm lượng nước là yếu tố vô cùng quan trọng ảnh hưởng đến tính công tác của bê tông.Tại công trường,người ta chỉ đạo thi công nếu không giỏi thì chỉ có cách là tăng lượng nước để tăng tính công tác.thực tế cũng thường thấy dùng cách này bởi vì đây là cách dễ nhất có thể thực hiện tại công trường.Việc tăng lượng nước là biện pháp cuối cùng để cải thiện tính công tác của bê tông,để thi công được bê tông thì không thể tăng lượng nước một cách tùy tiện.Càng tăng nhiều lượng nước thì càng phải tăng nhiều lượng xi măng để giữ cho tỷ số nước/xi măng không đổi,do vậy mới giữ nguyên được cường độ bê tông.

– Tỷ lệ thành phần hỗn hợp: tỷ số cốt liệu/xi măng cũng là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến tính công tác.Tỷ số này càng tăng bê tông càng khô cứng.Trong trường hợp hỗn hợp bê tông cứng,có rất ít vữa xi măng trên một đơn vị diện tích bề mặt cốt liệu để làm tăng tính bôi trơn do vậy làm tăng sự linh động của các hạt cốt liệu.Mặt khác,một loại bê tông đắt với tỷ lệ cốt liệu/xi măng thấp,nhiều vữa xi măng bám dính xung quanh các hạt cốt liêu và làm tăng tính công tác.

– Kích thước của cốt liệu: cốt liệu càng to,thì diện tích bề mặt càng giảm dẫn đến lượng nước cần thiết để làm ướt bề mặt giảm và lượng vữa yêu cầu để bôi trơn bề mặt cốt liệu cũng giảm.Với cùng một lượng nước và vữa nếu cốt liệu càng lớn thì tính công tác càng tăng.

– Hình dạng cốt liệu: cũng là 1 nhân tố ảnh hưởng nhiều đến tính công tác.người ta dùng nó như 1 cách để điều chỉnh tính công tác.Cốt liệu có hình dạng góc cạnh làm cho bê tông khó nhào trộn,cốt liệu tròn thì bê tông dẻo hơn.Cùng 1 đơn vị thể tích hoặc khối lượng bê tông cốt liệu tròn sẽ có diện tích bề mặt nhỏ hơn,lực ma sát giữa các phần tử cũng nhỏ hơn.Điều này giải thích vì sao cát sông và sỏi làm tăng tính công tác của bê tông hơn đá dăm.

– Bề mặt hạt cốt liệu: ảnh hưởng đến tính công tác là do tổng diện tích bề mặt của cốt liệu thô ráp lớn hơn tổng diện tích bề mặt cốt liệu trơn nhẵn đối với cùng 1 thể tích.Cốt liệu có bề mặt thô,ráp sẽ làm cho bê tông có tính công tác thấp hơn so với cốt liệu trơn nhẵn.Lực ma sát giữa cốt liệu trơn nhẵn cũng thấp hơn làm tăng tính công tác.

– Cấp phối hạt: đây là nhân tố ảnh hưởng lớn nhất đến tính công tác.Cấp phối tốt sẽ có tổng lỗ rỗng trên một đơn vị thể tích là thấp nhất.Những nhân tố khác không đổi,khi tổng lỗ rỗng nhỏ lượng vữa thừa ra có thể làm tăng tính bôi trơn.Với một lượng vữa thừa ra,hỗn hợp trở nên dính béo và đẩy xa các hạt cốt liệu ra.Cốt liệu sẽ trượt trên nhau với một công đầm nén ít nhất.Cấp phối hạt càng hợp lí thì tổng lỗ rỗng càng nhỏ và càng làm tăng tính công tác.

– Sử dụng phụ gia: đây là nhân tố quan trọng nhất.Sử dụng phạ gia đúng cách đúng lượng sẽ làm tăng tính công tác của hỗn hợp bê tông đồng thời làm giảm chi phí,tính kinh tế cao. Sự phụ thuộc của độ lưu động và độ cứng của hỗn hợp bê tông vào các yếu tố khác nhau:

CÁC TÍNH CHẤT CÔNG NGHỆ CỦA HỖ HỢP BÊ TÔNG
Được xác định bằng thành phần và các tính chất của nguyên liệu sử dụng.

Tính kết dính (khả năng tự cháy hoặc lấp đầy khuôn)của hốn hợp bê tông được đảm bảo nhờ hồ xi măng.hàm lượng hồ xi măng càng lớn,độ sệt của chúng càng lỏng hơn,độ lưu động của hỗn hợp bê tông càng lớn.Khi đưa cốt liệu vào hồ xi măng làm giảm độ lưu động của hỗn hợp,cụ thể độ lưu động của hỗn hợp giảm càng nhiều khi hàm lượng cốt liệu và tỷ diện của chúng càng lớn. Khi thay đổi chi phí xi măng trong bê tông từ 200 đến 400 kg/m^3 với lượng nước chi phí không đổi sự thay đổi độ lưu động của hỗn hợp bê tông càng nhỏ và thực tế chúng có thể không tính đến khi nhận độ lưu động cố định.Độ lưu động của hỗn hợp thay đổi chỉ khi thay đổi lượng nước chi phí.Quy luật này có tên gọi là”quy luật lượng cần nước không đổi” và cho phép trong các tính toán sử dụng sự phụ thuộc đơn giản của độ lưu dộng của hỗn hợp bê tông vào lượng nước chi phí. Độ lưu động của hỗn hợp bê tông tăng,còn cường độ hầu như không thay đổi khi tăng hàm lượng hồ xi măng với tỷ lệ N/X không đổi hoặc giảm lượng cốt liệu.Nếu như nhận hồ xi măng chỉ với số lượng cần để lấp đầy các lỗ rỗng giữa các cốt liệu,thì hỗn hợp bê tông nhận được sẽ cứng,không đạt tính công tác.Để hỗn hợp trở thành lưu động cần không lấp đầy các lỗ rỗng,mà còn dịch các hạt cốt liệu bằng các lớp ngăn cách bằng hồ xi măng.Phụ thuộc vào các tính chất của cốt liệu và tỷ lệ giữa cát và đá dăm hàm lượng tối thiểu của hồ xi măng trong hỗn hợp bê tông,hàm lượng này đảm bảo chúng không phân tầng và lèn chặt có chất lượng,nằm trong khoảng 170-200 1 trong hỗn hợp cứng và đến 220-270 1 trong hỗn hợp lưu động và chảy.

Các tính chất của xi măng ảnh hưởng đến độ lưu động của hỗn hợp bê tông: sử dụng xi măng có lượng nước tiêu chuẩn cao làm giảm độ lưu động của hỗn hợp bê tông (với lượng nước chi phí không đổi).Hỗn hợp bê tông,chứa xi măng póc lăng puzolan với phụ gia silic hoạt tính,đặc biệt từ nguồn gốc trầm tích (Trêpl,điatomic),ở cùng một lượng nước chi phí có độ sụt nón nhỏ hơn so với hỗn hợp từ xi măng póc lăng thông dụng. Độ lưu động của hỗn hợp bê tông tăng khi tăng hàm lượn nước (nhưng nếu chi phí xi măng không đổi thì cường độ bê tông sẽ giảm).tuy nhiên mỗi một hỗn hợp bê tông có khả năng giữ lượng nước nhất định,khi hàm lượng nước lớn một phần của nó tách khỏi hỗn hợp bê tông,điều này không cho phép.Sự biến đổi hàm lượng nước là nhân tố chính để điều chỉnh độ sệt của hỗn hợp bê tông

Thông tin cần biết về bê tông bọt

Thông tin cần biết về bê tông bọt

Bọt kỹ thuật được chế tạo từ dung dịch tạo bọt cô đặc hòa tan cùng với nước với tỷ lệ nhất định; được trộn cùng một lượng không khí phù hợp nhờ thiết bị tạo bọt. Hỗn hợp dung dịch – nước và không khí được đẩy qua vòi phun tạo bọt của máy tạo bọt.

Thông tin cần biết về bê tông bọt

Thông tin cần biết về bê tông bọt

Bê tông bọt là gì ? Nó được sản xuất từ nguyên vật liệu nào và những ưu và nhược điểm của bê tông bọt so với các loại bê tông khác.

BÊ TÔNG BỌT LÀ GÌ?
Trên thị trường xây dựng nói chung và thị trường bê tông nói riêng ngày càng phát triển, ngày càng xuất hiện thêm những công nghệ và sản phẩm mới. Bài viết này giúp các bạn hiểu thêm về bê tông bọt một loại sản phẩm mới xuất hiện trên thị trường bê tông Việt Nam.

Bê tông bọt là loại bê tông kỹ thuật chứa các lỗ rỗng khí được phân bố một cách đồng đều; ở thể rắn có thể xem như là bê tông có cốt liệu khí.

· Khối lượng thể tích có thể thay đổi từ 300-1600 kg/ m.

· Cường độ chịu nén từ 7-170 da N /cm.

· Có khả năng cách âm, cách nhiệt cao. Hệ số dẫn nhiệt: 0,07-0,7 W/m.

· Sản phẩm bê tông bọt có độ hút nước cao, làm tăng khối lượng thể tích và giảm cường độ.

· Sản phẩm bê tông bọt có tính co ngót lớn: có thể đạt 1mm/m.

· Bọt kỹ thuật được chế tạo từ dung dịch tạo bọt cô đặc hòa tan cùng với nước với tỷ lệ nhất định; được trộn cùng một lượng không khí phù hợp nhờ thiết bị tạo bọt. Hỗn hợp dung dịch – nước và không khí được đẩy qua vòi phun tạo bọt của máy tạo bọt.

· Bọt được tạo thành có dạng như bọt cạo râu, được trộn với hỗn hợp vữa dẻo đã trộn sơ bộ trong máy trộn để tạo thành hỗn hợp bê tông bọt có khối lượng thể tích nhỏ.

· Bọt kỹ thuật là thành phần cuối cùng trộn vào hỗn hợp vừa dẻo đã trộn sơ bộ trong máy trộn để tạo thành hỗn hợp bê tông bọt có khối lượng thể tích nhỏ.

· Bọt kỹ thuật là thành phần cuối cùng trộn vào hỗn hợp, trong quá trình trộn có một khối lượng bọt nhỏ bị tổn thất nhưng hỗn hợp bê tông bọt sau khi trộn hầu như không thay đổi thể tích.

· Hỗn hợp bê tông bọt, có độ linh động cao, có khả năng tự lèn khi tạo hình, có thể chịu được sự nhào trộn mạnh và có thể bơm đến vị trí xa khoảng 1600m với lượng hao hụt nhỏ.

Thông tin cần biết về bê tông polystyrol

Thông tin cần biết về bê tông polystyrol

Gần đây ở các nước phát triển như Pháp, Đức, Italia, Nga, Cộng hòa Séc,… đã sử dụng hạt polystyron nở phồng làm cốt liệu để chế tạo bê tông nhẹ và đặc biệt nhẹ. Người ta sử dụng loại bê tông này trong các kết cấu cách nhiệt và cách nhiệt – chịu lực.

Thông tin cần biết về bê tông polystyrol

Thông tin cần biết về bê tông polystyrol

Bê tông polystyrol là sản phẩm của quá trình phồng nở hạt polystyrol nguyên liệu. Các sản phẩm hạt này hoàn toàn có thể được sử dụng trong chế tạo bê tông polystyrol.

Như ta đã biết hạt cốt liệu polystyrol được sản xuất ra bởi các công ty với mục đích sản xuất các sản phẩm bao bì, nệm xốp, lớp hạt trong lọc nước. Trên thê giới công nghệ phồng nở hạt polystyrol đã có hệ thống, thiết bị đồng bộ cho quá trình phồng nở hạt. Hệ thống thiết bị này có thể được nghiên cứu chế tạo trong nước dựa trên kinh nghiệm và các tài liệu tham khảo trên thế giới. Bên cạnh việc duy trì các cơ sở sản xuất theo công nghệ gián đoạn đáp ứng các nhu cầu nhỏ, cần tập trung đầu tư các hệ thống hoạt động liên tục phục vụ cho sản xuất cốt liệu quy mô lớn với chất lượng ổn định.

Hiện nay, nước ta chưa sản xuất được hạt polystyrol nguyên liệu. Nhưng, với sự phát triển của ngành hóa dầu, việc sản xuất hạt polystyrol nguyên liệu trong nước là hoàn toàn khả thi. Trước mắt, nhằm hạ giá thành sản phẩm, đa dạng hóa nguồn vật liệu đầu vào cần nghiên cứu xử lý các loại phế thải polystyrol để sử dụng trong sản xuất bê tông polystyrol. Hướng nghiên cứu này không những có ý nghĩa về mặt kinh tế – kỹ thuật, mà còn đóng góp rất lớn vào việc giải quyết các vấn đề môi trường hiện nay.

Gần đây ở các nước phát triển như Pháp, Đức, Italia, Nga, Cộng hòa Séc,… đã sử dụng hạt polystyron nở phồng làm cốt liệu để chế tạo bê tông nhẹ và đặc biệt nhẹ. Người ta sử dụng loại bê tông này trong các kết cấu cách nhiệt và cách nhiệt – chịu lực. Khối lượng thể tích của chúng trong khoảng 150 – 1200kg/m3, cường độ nén từ 0,2 – 10Mpa. Bê tông polystyrol là một sản phẩm khá mới mẻ đối với thị trường nước ta. Tại miền bắc, một số ứng dụng thử bê tông polystyrol đã được triển khai với quy mô nhỏ trên cơ sở các nghiên cứu tiến hành tại Viện KHCN Xây dựng – Bộ Xây dựng. Viện Khoa học kỹ thuật Xây dựng đã có công trình nghiên cứu chế tạo loại bê tông này với khối lượng thể tích từ 400 – 700kg/m3, cường độ nén từ 1,0 – 6,5Mpa. Các sản phẩm đề xuất ứng dụng gồm: tấm lát cách nhiệt hay chống nồm, khối lượng thể tích 500 ÷ 600kg/m3, kích thước 300 x 400mm độ dày tối thiểu 80 – 100mm; viên xây nhẹ khối lượng thể tích 600 – 700kg/m3, kích thước phù hợp TCVN 1451 : 1998; panel tường lắp nhanh, khối lượng thể tích 700 – 800kg/m3; kết cấu đổ tại chỗ chống nồm cho sàn, chống nóng cho mái phẳng không cốt thép, mái dốc có cốt thép.

Để chống thấm cho bê tông polystyrol, cần phải có lớp hoàn thiện mặt ngoài. Các nghiên cứu về bê tông polystyrol trong thời gian qua ở nước ta đã cho thấy có thể chế tạo bê tông polystyrol đảm bảo các yêu cầu kỹ thuật sử dụng hạt polystyrol thương phẩm có sẵn trên thị trường. Đây là cơ sở để hạ giá thành sản phẩm nhằm mục tiêu mở rộng sản xuất, ứng dụng các sản phẩm bê tông polystyrol trong điều kiện Việt Nam. Các kết quả nghiên cứu đã cho thấy chúng ta có thể sản xuất được loại bê tông này phù hợp với điều kiện khí hậu Việt Nam. Do bê tông polystyrol là một loại bê tông mới được phát triển trong thời gian gần đây nên các tài liệu, tiêu chuẩn áp dụng cho loại bê tông này rất cần được bổ sung. Bê tông polystyrol với các mác về khối lượng thể tích và cường độ khác nhau cần được quy chuẩn và được nghiên cứu chi tiết, không những trong công nghệ vật liệu mà còn trong ứng dụng thiết kế kết cấu. Do đó, các thông số tính toán kết cấu và các hệ số thực nghiệm cho các mác bê tông polystyrol cần được nghiên cứu, xác lập.

Những đặc điểm của bê tông nhẹ

Những đặc điểm của bê tông nhẹ

Hệ số dẫn nhiệt của bê tông nhẹ tăng theo khối lượng thể tích và độ ẩm của nó. Do đó, cần đặc biệt quan tâm đến vấn đề chống thấm, ngăn nước cho những kết cấu bao che chế tạo từ bê tông nhẹ.

Những đặc điểm của bê tông nhẹ

Những đặc điểm của bê tông nhẹ

Bê tông nhẹ rỗng hay bê tông nhẹ cốt liệu rỗng là gì? Những thông số kỹ thuật và ưu nhược điểm của bê tông nhẹ cốt liệu rỗng.
BÊ TÔNG NHẸ RỖNG
Từ giữa những năm đầu của thế kỷ trước các nhà bác học của khoa xây dựng trường Đại học Bách Khoa thành phố HCM đã nghiên cứu thành công đề tài *bê tông nhẹ cốt liệu rỗng* là một dạng bê tông nhẹ có lỗ rỗng, thành phần của nó giống như bê tông thường nhưng không sử dụng cốt liệu nhỏ là cát.

Ưu điểm của loại bê tông nhẹ này là có khối lượng thể tích nhỏ, giá thành thấp do dùng lượng xi măng ít hơn so với bê tông thường, hệ số dẫn nhiệt thấp, độ co ngót thấp, không phân tầng và không có sự dịch chuyển mao dẫn của nước.

Do có nhiều lỗ rỗng nên loại bê tông nhẹ đặc biệt này dễ dàng cho nước thoát qua một cách nhanh chóng, giảm thiểu hiện tượng nước chảy tràn và cung cấp lại lượng nước ngầm. Thành phần chính của nó là cốt liệu lớn (đá) có cùng một cỡ hạt được bao bọc bởi một lớp mỏng vữa, không có cốt liệu rỗng nhỏ (cát).

Nguyên vật liệu để chế tạo loại bê tông nhẹ này bao gồm: đá, xi măng, nước,… Cốt liệu đá sử dụng một loại cỡ hạt, kích thước có thể lên đến 25 mm. Khi kích thước đá càng lớn thì bề mặt bê tông nhẹ càng gồ ghề, ngược lại đá có kích thước nhỏ sẽ cho bề mặt bê tông mịn hơn. Các công trình như lề bộ hành nên dùng đá có kích thước nhỏ để làm tăng nét thẩm mỹ của công trình. Cũng như bê tông thường, cốt liệu đá cũng phải tuân theo các yêu cầu là phải đạt trạng thái bão hòa, bề mặt khô ráo khi tiến hành đúc mẫu.

Khi sử dụng loại bê tông nhẹ này người sử dụng cần chú ý những đặc điểm sau :

– Với mỗi một cốt liệu lớn chỉ chế tạo được bê tông nhẹ đến một cường độ giới hạn nhất định. Khi đã đạt đến cường độ này, nếu tiếp tục tăng cường độ của nền vữa tăng lượng dùng xi măng, giảm tỷ lệ nước/xi măng thì cường độ của bê tông nhẹ tăng không đáng kể, hiểu quả kinh tế sẽ thấp.

– Hệ số dẫn nhiệt của bê tông nhẹ tăng theo khối lượng thể tích và độ ẩm của nó. Do đó, cần đặc biệt quan tâm đến vấn đề chống thấm, ngăn nước cho những kết cấu bao che chế tạo từ bê tông nhẹ. Tuy nhiên bê tông nhẹ keramzit cấu tạo đặc có khả năng chống thấm tốt hơn so với bê tông nặng thông thường.

– Trong thi công bê tông nhẹ cốt liệu rỗng cần đặc biệt quan tâm đến sự thống nhất giữa các yếu tố: tính công tác của hỗn hợp bê tông độ sụt côn; độ cứng; độ phân tầng;; phương pháp thi công và chế độ đầm chặt. Mối quan hệ này ảnh hưởng rất lớn đến tính đồng nhất của bê tông, do cốt liệu nhẹ có xu hướng nổi lên trong quá trình vận chuyển và tạo hình. Hiện tượng này rất dễ xảy ra khi hỗn hợp bê tông có độ dẻo cao hoặc có độ cứng lớn. Thông thường phải kết hợp gia tải với rung động trong quá trình tạo hình bê tông nhẹ.

– Bằng cách sử dụng tổ hợp các phụ gia đặc biệt, có thể chế tạo được hỗn hợp bê tông nhẹ có độ chảy cao mà không bị phân tầng khi vận chuyển và tạo hình. Tuy nhiên, trong trường hợp này, cần phải giám sát quá trình sản xuất thi công bởi các chuyên gia công nghệ.

– Đối với các loại bê tông nhẹ công trình và công trình – cách nhiệt, cần đặc biệt quan tâm đến khả năng dính bám của bê tông với cốt thép. Bê tông nhẹ cốt liệu rỗng có cường độ nén ≥10Mpa đảm bảo được độ dính bám và bảo vệ được cốt thép không bị ăn mòn của môi trường. Trong trường hợp khác, cần có biện pháp tăng khả năng neo chắc và chống rỉ cho cốt thép trong bê tông.

Lý do nên chọn bê tông tươi

Lý do nên chọn bê tông tươi

Trước bối cảnh đó, bê tông tươi là giải pháp giúp chủ nhà an tâm hơn vì chất lượng sản phẩm được đảm bảo, nguyên vật liệu được kiểm soát chặt chẽ ngay từ khâu đầu vào, quá trình sản xuất tự động với hệ thống máy móc, công nghệ hiện đại, chất lượng sản phẩm được giám sát và kiểm tra trước khi đến công trình.

Lý do nên chọn bê tông tươi

Lý do nên chọn bê tông tươi

Khi bắt tay vào việc xây nhà, ai cũng luôn mong muốn sẽ có một ngôi nhà thật đẹp và bền vững. Không ít người đã từng trăn trở về chất lượng của bê tông trộn thủ công, những thùng cát đá không qua sàng lọc, tỉ lệ xi măng chủ yếu do kinh nghiệm của người thợ, nước thì dùng vòi phun trực tiếp không đong đếm… làm sao các cấu kiện bê tông đạt yêu cầu thiết kế? Trước bối cảnh đó, bê tông tươi là giải pháp giúp chủ nhà an tâm hơn vì chất lượng sản phẩm được đảm bảo, nguyên vật liệu được kiểm soát chặt chẽ ngay từ khâu đầu vào, quá trình sản xuất tự động với hệ thống máy móc, công nghệ hiện đại, chất lượng sản phẩm được giám sát và kiểm tra trước khi đến công trình.